Ngày Tôi Bước Qua Đầu Làng

Chương 2



Dầu mỡ, trơn tuột. Vào mùa đông, nước lạnh như băng, tay ngâm bên trong vừa đỏ vừa sưng, như củ cà rốt.

Buổi tối quay lại ký túc xá, các bạn cùng phòng đều đã đi học tự học tối. Tôi lấy sách giáo khoa ra, ngồi trên giường, mượn ánh đèn hành lang để đọc sách.

Các bạn cùng phòng thỉnh thoảng sẽ mang đồ ăn đêm về cho tôi.

Một cái bánh bao, hoặc một bắp ngô.

"Trần Niệm, mau ăn đi, còn nóng đấy."

Lần nào tôi cũng nói: "Mình ăn rồi."

Lý Hiểu Nguyệt sẽ ép tôi nhận.

"Ăn đi, cậu gầy quá rồi đấy."

Tôi biết họ có ý tốt, nhưng tôi không muốn nhận sự bố thí.

Tôi bí mật ghi lại những thứ họ đưa cho mình vào một cuốn sổ.

Tôi nghĩ, sau này nhất định phải trả lại.

Tôi rất ít khi tham gia các hoạt động tập thể của lớp, bởi vì những thứ đó đều tốn tiền.

Tôi cũng rất ít khi mua quần áo mới. Bốn năm, tôi chỉ mặc vài bộ đồ mang theo từ lúc nhập học, giặt đến bạc trắng, sờn cả mép.

Trong khuôn viên Bắc Đại hào nhoáng, tôi giống như một kẻ lập dị.

Tôi có thể cảm nhận được ánh mắt khác thường của người khác.

Nhưng tôi không quan tâm.

Tôi không có thời gian để quan tâm.

Tôi phải học tập, tôi phải kiếm tiền.

Tôi phải trả lại số tiền đã nợ chú Ba, cả vốn lẫn lãi.

Tôi phải trả lại gấp bội sự sỉ nhục mà tôi đã phải chịu đựng.

Năm thứ hai đại học, tôi nhận được học bổng quốc gia hạng nhất.

Tám ngàn tệ.

Khoảnh khắc nhận được tiền, tôi lao ngay ra bưu điện, gửi toàn bộ số tiền đó cho chú Ba.

Trong phần lời nhắn, tôi viết:

"Chú Ba, đây là khoản đầu tiên."

03

Chú Ba đã gửi trả lại số tiền đó.

Gửi kèm cùng xấp tiền là một lá thư.

Trong thư nói: "Niệm Niệm, cháu đang lúc cần dùng tiền, hãy tự giữ lấy cho mình. Ở nhà mọi chuyện đều ổn, chú và thím Ba vẫn còn khỏe mạnh lắm. Bố mẹ cháu cũng khỏe. 

Trong làng mới xây trường tiểu học mới, em Tiểu Phong nhà chú học hành rất chăm chỉ. Đừng lo lắng, cứ yên tâm học hành."

Tôi nắm chặt xấp tiền mới tinh bị gửi trả lại. Đứng trước cửa bưu điện, nước mắt tôi cứ thế tuôn rơi. Tôi biết, câu "mọi chuyện đều ổn" của chú Ba là giả. 

Ở nông thôn, ngày tháng làm sao mà dễ dàng cho được? Một đồng tiền cũng phải bẻ đôi mà tiêu. 

Tám ngàn tệ này đối với họ là một gia tài khổng lồ. Vậy mà chú vẫn gửi trả lại.

Tôi không gửi thêm lần nào nữa. Tôi biết có gửi thì chú cũng sẽ lại trả về thôi. 

Tôi đem tiền gửi vào ngân hàng. Lần đầu tiên trong sổ tiết kiệm của tôi có một con số dư gồm bốn chữ số. Tôi không mua quần áo mới, cũng không cải thiện bữa ăn. Tôi chỉ ra cửa hàng của trường, mua một xấp giấy viết thư thật lớn và một xấp tem.

Kể từ đó, mỗi tháng tôi đều viết cho chú Ba một lá thư. 

Trong thư, tôi không còn chỉ nói "mọi chuyện đều ổn" nữa. Tôi bắt đầu kể cho chú nghe về việc học của mình. Kể về những cuốn sách tôi đọc, về những người thầy của tôi. Kể về những trung tâm thương mại mới mở ở Bắc Kinh, dù tôi chưa từng bước chân vào. Kể về những đại sự quốc gia xem được trên tivi. 

Tôi muốn chú biết rằng, con bò vàng mà chú bán đi đã đổi lại được một thế giới rộng lớn mà đứa cháu gái của chú đang từng ngày chứng kiến.

Thư hồi âm của chú Ba vẫn rất ngắn, chữ viết thì nguệch ngoạc xiêu vẹo. Nhưng tôi biết, lá thư nào chú cũng đọc rất kỹ, thậm chí có thể còn đọc cho thím Ba và bố mẹ tôi cùng nghe.

Năm thứ ba, tôi bắt đầu học thêm văn bằng hai ngành Kinh tế học. Những chuyện "phong hoa tuyết nguyệt" của khoa Ngữ văn không thể nuôi sống bản thân được. 

Tôi muốn kiếm tiền, kiếm thật nhiều tiền. Các môn kinh tế rất khó, toàn là mô hình và công thức. Tôi như một miếng bọt biển, điên cuồng hấp thụ kiến thức. 

Thư viện trở thành ký túc xá thứ hai của tôi. Mỗi ngày khi bản nhạc báo giờ đóng cửa vang lên, tôi luôn là người cuối cùng rời đi.

Tôi cũng tìm được một công việc bán thời gian mới: Gia sư. 

Dạy kèm Văn và Tiếng Anh cho một đứa trẻ học cấp hai. Một giờ ba mươi tệ, tốt hơn nhiều so với việc rửa bát ở nhà ăn. 

Gia đình chủ nhà rất giàu có, sống trong một khu chung cư cao cấp. Mỗi lần tôi đến, người mẹ đều chuẩn bị sẵn trái cây và điểm tâm. 

Tôi chưa bao giờ ăn. Tôi chỉ đến đúng giờ và về đúng giờ.

Cậu bé tên Tiểu Hàng đó rất thông minh nhưng lại vô cùng nổi loạn. Lúc đầu, cậu ta chẳng thèm nghe lời tôi. Trong giờ học cứ đeo tai nghe nghe nhạc, quẳng quyển bài tập sang một bên. Cậu ta bảo: "Trên người cô có mùi gì ấy."

Tôi biết, đó là mùi của quần áo cũ trộn lẫn với mùi bột giặt rẻ tiền. Tôi không giận. Tôi chỉ nhìn cậu ta và nói:

"Tôi làm một giờ được ba mươi tệ. Tiết học này còn năm mươi phút, tức là tương đương với hai mươi lăm tệ. Cậu muốn nghe nhạc, cũng được thôi. 

Hai mươi lăm tệ này là tiền của bố mẹ cậu. Họ kiếm tiền cũng không dễ dàng gì. Nếu cậu thấy tiền của họ nhiều quá đốt tay thì cứ tiếp tục đi."

Cậu ta sững sờ. 

Cậu ta không ngờ tôi lại nói như vậy. Cậu ta tháo tai nghe ra. Tiết học đó, cậu ta hợp tác một cách kỳ lạ.

Sau này thân hơn, cậu ta hỏi tôi: "Cô giáo, sao cô lại liều mạng như vậy?"

Tôi trả lời: "Vì nghèo."

Cậu ta im lặng. Từ đó về sau, cậu ta không bao giờ nhắc đến mùi trên người tôi nữa.

Thành tích của cậu ta tiến bộ rất nhanh. Kỳ thi cuối kỳ, từ nhóm trung bình yếu, cậu ta đã lọt vào top mười của lớp. Bố mẹ cậu ta rất vui mừng, đưa cho tôi một bao lì xì lớn: một ngàn tệ.

Tôi không nhận. Tôi nói: "Đây là việc tôi nên làm."

Mẹ cậu ta cứ nhất quyết ấn vào tay tôi: "Cô Trần, cô đừng khách sáo, đây là công sức của cô. Tiểu Hàng trước đây đã thay bảy tám gia sư rồi, chẳng ai bảo nổi nó cả."

Tôi nói: "Thưa chị, nếu chị thực sự muốn cảm ơn tôi, xin hãy giới thiệu tôi cho những người bạn khác của chị đang có nhu cầu. Tôi muốn nhận thêm vài suất gia sư nữa."

Bà ấy rất ngạc nhiên nhưng lập tức đồng ý ngay. Cứ thế, tôi có ba suất gia sư trong tay. 

Lịch học mỗi tuần đều kín mít. Tiền sinh hoạt phí không còn là vấn đề nữa. Thậm chí mỗi tháng tôi còn gửi về nhà được hai trăm tệ. 

Tôi đặc biệt dặn kỹ, số tiền này là dành cho chú Ba thím Ba. Lần này, chú Ba không gửi trả lại nữa. Tôi biết, có lẽ gia đình thực sự đang cần tiền.

Năm thứ tư, bạn bè xung quanh bắt đầu bận rộn thi cao học hoặc tìm việc làm. Danh sách những người được tuyển thẳng thạc sĩ đã có, và có tên tôi. Giảng viên cố vấn tìm tôi nói chuyện:

"Trần Niệm, thành tích của em luôn đứng đầu, thầy khuyên em nên ở lại trường học tiếp lên thạc sĩ. Với điều kiện của em, sau này khả năng ở lại trường làm giảng viên là rất cao."

Tôi lắc đầu: "Thưa thầy, em muốn đi làm ngay."

Thầy vô cùng tiếc nuối: "Thầy biết em có làm thêm bên ngoài, là do gia đình khó khăn sao? Nếu đúng vậy, nhà trường có thể hỗ trợ."

Tôi vẫn lắc đầu: "Thưa thầy, em cảm ơn thầy, nhưng em muốn kiếm tiền sớm một chút."

Tôi không nói với thầy rằng, ở quê tôi còn có một người chú Ba. 

Chú đã vì tôi mà bán đi con bò dành để cưới vợ cho con trai mình. Con trai chú là Tiểu Phong, kém tôi ba tuổi, cũng đã đến tuổi tính chuyện hôn nhân rồi. 

Ở nông thôn, không có nhà cửa, không có sính lễ thì không cưới nổi vợ đâu. Tôi không thể đợi thêm ba năm nữa.

Tôi từ chối suất học bổng thạc sĩ và bắt đầu tìm việc. Tình hình việc làm năm đó không mấy khả quan, nhưng cái mác "Bắc Đại" cùng bằng kép Ngữ văn và Kinh tế đã giúp tôi nhận được vài lời mời (offer) rất tốt. 

Trong đó có một công ty thuộc top 500 thế giới vừa mới vào Trung Quốc. Vị trí là quản trị viên tập sự (MT). Lương cao nhất, tiền đồ rộng mở nhất, nhưng cạnh tranh cũng khốc liệt nhất.

Vòng cuối cùng là phỏng vấn nhóm. Mười ứng viên cùng xây dựng phương án quảng bá cho một sản phẩm tiêu dùng nhanh giả định. Những người khác trong nhóm tôi, một là du học sinh về nước, hai là sinh viên Thanh Hoa. 

Ai nấy đều nói tiếng Anh lưu loát, tư duy nhạy bén. Khi thảo luận, tôi gần như không chen vào nổi lời nào. Những mô hình lý luận mà họ thốt ra, tôi thậm chí còn chưa từng nghe qua. Tôi chỉ có thể ngồi bên cạnh, lặng lẽ ghi lại những điểm chính của họ.

Đến phần thuyết trình tổng kết cuối cùng, mọi người cứ đùn đẩy nhau. Không ai muốn làm người tiên phong, vì tổng kết tốt thì là công lao của cả nhóm, nhưng nếu không tốt thì một mình người đó sẽ phải "gánh tội".

Tôi đứng dậy: "Để tôi."

Tất cả mọi người đều nhìn tôi đầy ngạc nhiên. Tôi cầm cuốn sổ của mình bước lên phía trước. 

Tôi không nhắc lại những lý thuyết hoa mỹ của họ. Tôi chỉ nói đúng ba điểm:

"Thứ nhất, đối tượng khách hàng mục tiêu của chúng ta là ai? Là đại chúng, không phải tầng lớp tinh hoa. Vì vậy phương án của chúng ta phải đơn giản, trực tiếp và gần gũi.

Thứ hai, điểm bán hàng cốt lõi (USP) của chúng ta là gì? Là ngon, bổ, rẻ. Ở thị trường Trung Quốc hiện tại, giá trị sử dụng trên giá thành (P/P) luôn là ưu tiên hàng đầu.

Thứ ba, kênh phân phối của chúng ta là gì? Là những hợp tác xã, cửa hàng tạp hóa len lỏi sâu vào từng ngõ ngách, chứ không phải các trung tâm thương mại lớn ở thành phố."

Tôi nói xong, cả khán phòng im phăng phắc. Người phỏng vấn là một người nước ngoài mắt xanh tóc vàng, ông ấy vốn luôn giữ vẻ mặt không cảm xúc. 

Cho đến lúc này, ông mới gật đầu, hỏi tôi bằng vốn tiếng Trung hơi gượng gạo:

"Tên bạn là gì?"

"Tôi là Trần Niệm."

Ông ấy nói: "Chào mừng bạn, Trần Niệm."

Tôi đã nhận được công việc đó. Lương tháng một vạn hai ngàn tệ. Vào năm 1999, đó là một con số thiên văn.

Việc đầu tiên tôi làm là gọi điện về nhà. Đó là chiếc điện thoại quay số duy nhất ở cửa hàng tạp hóa trong làng. 

Tôi nhờ họ gọi bố tôi ra nghe. Đợi rất lâu, đầu dây bên kia mới vang lên giọng nói xúc động của bố:

"Niệm Niệm hả con?"

"Bố, con tìm được việc rồi. Làm ở công ty nước ngoài. Lương mỗi tháng một vạn hai."

Đầu dây bên kia im lặng. Tôi chỉ có thể nghe thấy tiếng thở dốc nặng nề của ông. Hồi lâu sau, ông mới hỏi:

"Một vạn hai? Là bao nhiêu tiền?"

Tôi nói: "Nhiều hơn số tiền mấy mẫu ruộng nhà mình kiếm được trong cả năm cộng lại mấy lần bố ạ."

Ông lại im lặng. Cuối cùng, ông chỉ thốt ra một câu: "Tốt, tốt quá, con gái của bố giỏi lắm."

Đêm đó, tôi ra quảng trường Thiên An Môn. Nhìn lá đại kỳ tung bay trong gió đêm, trong lòng tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất:

Cuối cùng thì, tôi đã có thể bắt đầu trả nợ rồi.

Tháng lương đầu tiên, tôi gửi về nhà mười ngàn tệ. Tôi chỉ có một yêu cầu duy nhất:

Xây nhà mới cho gia đình chú Ba. 

Phải xây ngôi nhà tốt nhất làng, giống như ngôi nhà hai tầng của chú Hai. 

Không, phải tốt hơn cả nhà chú ấy. 

Phải ốp gạch men trắng sáng loáng. 

Phải lắp cửa inox sáng choang. 

Phải để cho cả làng này biết: Đây là do đứa con gái nhà họ Trần, Trần Niệm, xây cho.

04

Tờ phiếu chuyển tiền bưu điện trị giá mười ngàn tệ đã gây ra một cơn chấn động tại bưu cục nhỏ ở làng. 

Lão Vương nhân viên bưu tá cứ rà soát đi rà soát lại những con số trên đó, đếm từng số không một. Lão không tin vào mắt mình nữa.

Người gửi: Trần Niệm. Người nhận: Trần Kiến Quốc.

Địa chỉ là ngôi nhà cũ nát của nhà họ Trần.

Khi lão Vương đưa tờ phiếu chuyển tiền cho bố tôi, tay lão run lẩy bẩy: "Kiến Quốc, con gái ông khá quá. Thật sự quá giỏi!"

Bố tôi nhìn tờ giấy đó như nhìn một tấm bùa chú. Ông không nói gì, chỉ dùng đôi bàn tay đầy vết chai sạn xoa đi xoa lại trên mặt giấy.

Tin tức như mọc thêm cánh, chỉ nửa ngày đã bay khắp làng. 

Niệm Niệm kiếm được bộn tiền ở Bắc Kinh rồi! Một tháng hơn một vạn! Một vạn là bao nhiêu tiền? 

Chẳng ai nói chính xác được, họ chỉ biết đó là số tiền mà họ làm ruộng cả đời cũng không kiếm nổi.

Cả làng sôi sục. Người ngưỡng mộ, kẻ ghen ghét, kẻ lại nói lời mỉa mai. Chuyện gì cũng có. 

Bố tôi cầm tờ phiếu chuyển tiền đó, không về nhà ngay mà đi thẳng đến nhà chú Ba. Chú Ba đang ở trong sân đan sọt. Đó là nguồn thu nhập duy nhất của chú vào lúc nhàn hạ sau vụ mùa. Một cái sọt bán được năm tệ.

Thấy bố tôi, chú Ba ngẩng lên, nở nụ cười chất phác: "Anh, sao anh lại sang đây?"

Bố tôi đưa tờ phiếu chuyển tiền qua: "Kiến Quân, đây là Niệm Niệm gửi về."

Chú Ba nhận lấy, liếc nhìn một cái rồi lại đưa trả lại: "Anh, tiền này em không nhận được đâu. Niệm Niệm là con gái, lại vừa đi làm, nhiều chỗ phải dùng đến tiền lắm."

Sắc mặt bố tôi trầm xuống: "Kiến Quân, chú là đang coi thường tôi, hay coi thường Niệm Niệm?"

Chú Ba cuống quýt: "Anh, em không có ý đó."

Bố tôi ngắt lời: "Tiền này là Niệm Niệm hiếu kính chú và thím Ba. Nó bảo, ân tình bán bò năm xưa, nó nhớ suốt đời. 

Đây mới chỉ là khoản đầu tiên, sau này sẽ còn nữa. Nó chỉ có một yêu cầu duy nhất: Phá căn nhà cũ này đi, xây nhà mới. 

Xây nhà hai tầng, ốp gạch trắng, lắp cửa inox. Phải xây ngôi nhà đẹp nhất cái làng này."

Chú Ba ngẩn người, hốc mắt đỏ hoe. Một gã đàn ông gần năm mươi tuổi đứng giữa sân, chân tay luống cuống không biết để vào đâu. Thím Ba từ trong nhà đi ra, nghe thấy lời đó liền bịt miệng khóc nức nở.

Bố tôi ấn mạnh tờ phiếu vào tay chú Ba: "Kiến Quân, nhận lấy đi. Đây là tấm lòng của Niệm Niệm. Chú không nhận là làm nó ở ngoài kia không yên tâm đâu. Người nhà họ Trần chúng ta không thể để người đời chỉ trỏ vào sống lưng được. Thụ ơn thì phải báo ơn."

Chú Ba nắm chặt tờ giấy mỏng manh, tay còn run hơn cả bố tôi. Chú không từ chối nữa, chỉ nặng nề gật đầu: "Được. Em nghe lời Niệm Niệm."

Chuyện này trở thành tin tức lớn nhất của làng tôi trong mấy chục năm qua. Lẽ tất nhiên, nó cũng lọt đến tai chú Hai Trần Phú Quý.

Hôm đó, chú Hai đang ngồi chém gió ở cửa hàng tạp hóa đầu làng, khoe rằng dạo này chú lại vừa buôn một lô phân bón, kiếm được bao nhiêu bao nhiêu tiền. 

Có người liền nhắc đến chuyện tôi gửi tiền về nhà xây nhà cho chú Ba. Sắc mặt chú Hai lập tức biến đổi. Chú ném nắm hạt dưa xuống đất:

"Mười ngàn tệ? Nó là một con ranh vắt mũi chưa sạch, đào đâu ra lắm tiền thế? Chẳng lẽ làm cái trò gì mờ ám ở ngoài kia sao?"

Có người bên cạnh nghe không lọt tai: "Phú Quý, ông nói thế thì khó nghe quá. Niệm Niệm người ta là sinh viên Bắc Đại chính quy, làm việc ở công ty lớn."

Chú Hai cười lạnh: "Sinh viên? Sinh viên mà mới đi làm đã kiếm được ngay nhiều tiền thế à? Tôi nói cho các người biết, tiền của con gái là không tin được đâu. Hôm nay có mười ngàn, ngày mai là hết sạch. 

Còn đòi xây lầu? Tôi cứ chống mắt lên xem nhà nó xây được đến đâu. Đừng để đến lúc xây được một nửa thì hết tiền, thành cái nhà hoang cho thiên hạ cười cho."

Thím Hai Ngô Thải Hà cũng phụ họa bên cạnh: "Đúng thế, đem tiền đi xây nhà cho nhà người khác, đúng là cái đồ lỗ vốn. Sau này gả đi rồi, cái nhà đó có liên quan nửa điểm gì đến nó nữa không? Học cho lắm vào rồi lú lẫn cái đầu."

Hai vợ chồng họ kẻ xướng người họa, khiến những người xung quanh đều im lặng, không ai dám tiếp lời. 

Nhưng ai cũng nhận ra, họ đang ghen tị. Họ đang đỏ mắt vì cay cú.

Năm xưa khi nhà họ xây ngôi nhà hai tầng đó, uy phong biết bao nhiêu. Trần Phú Quý đi lại trong làng lúc nào cũng vênh váo. 

Chú ta không ngờ mới chỉ vài năm trôi qua, đứa cháu gái mà chú ta thậm chí không thèm nhìn thẳng, đứa "đồ lỗ vốn" mà chú ta khẳng định là "học cho lắm rồi ngu đi", lại có khả năng xây cho người em thứ ba nghèo nhất làng một ngôi nhà còn đẹp hơn cả nhà chú ta. Sự chênh lệch tâm lý này khiến chú ta phát điên.

Bố tôi sau đó có kể lại những chuyện này trong thư gửi cho tôi. Cuối thư bố viết:

"Niệm Niệm, đừng để ý người ta nói gì. Chú Hai con vốn là người như thế, không chịu được cảnh ai hơn mình. Con cứ yên tâm công tác, ở nhà mọi chuyện đã có bố."

Tôi nhìn lá thư, mỉm cười. Một nụ cười lạnh lẽo.

Chú Hai, đây mới chỉ là bắt đầu thôi. Khoản nợ giữa chúng ta, phải tính toán từ từ.

Rất nhanh sau đó, phần móng nhà của chú Ba đã được làm xong. Bố tôi trực tiếp giám sát, thuê thợ giỏi nhất làng, dùng toàn vật liệu tốt nhất. Gạch đỏ, xi măng, sắt thép... từng xe từng xe được chở vào làng. Thời gian đó, cổng nhà chú Ba còn náo nhiệt hơn cả họp chợ. 

Cả làng đổ xô đến xem. Họ nhìn móng nhà mọc lên từng ngày, tường nhà cao dần theo thời gian. Vẻ mặt họ cũng chuyển từ nghi ngờ lúc ban đầu sang kinh ngạc và ngưỡng mộ.

Chú Hai Trần Phú Quý không còn ra cửa hàng tạp hóa đầu làng nữa. Mỗi ngày chú ta đều sầm mặt từ ngoài đồng về, đi ngang qua công trường nhà chú Ba, chú ta đều đứng lại nhìn rất lâu. 

Không nói gì, cứ thế đứng nhìn. Trong ánh mắt đó, có những cảm xúc phức tạp mà tôi không thể hiểu hết.

Tôi biết, ngôi nhà hai tầng mà chú ta luôn tự hào chẳng mấy chốc sẽ bị lu mờ. Sự ưu việt của danh hiệu "người giàu nhất làng" đang bị từng viên gạch đỏ nghiền nát một cách không thương tiếc.

Chương trước Chương tiếp
Loading...