Ngày Tôi Bước Qua Đầu Làng
Chương 1
01
Mẹ nắm chặt tay tôi. Lòng bàn tay bà đầy mồ hôi.
Chúng tôi đang đi về phía ngôi nhà hai tầng ở phía đông ngôi làng.
Gạch đỏ, ngói trắng, tường viện ốp gạch men sáng loáng. Đó là nhà của chú Hai Trần Phú Quý.
Trong túi tôi đang nhét một tờ giấy. Giấy thông báo nhập học của Đại học Bắc Kinh.
Tờ giấy này rất nặng. Nó cần tám ngàn tệ mới có thể thực hiện được.
Bố tôi đã hút thuốc lào suốt cả đêm. Tiền trong nhà, có lật tung lên cũng chỉ có năm trăm ba mươi sáu tệ bảy hào.
Lúc trời tảng sáng, bố tôi khàn giọng nói: "Đi cầu xin chú Hai con đi."
Bước chân của mẹ dừng lại trước cửa nhà chú Hai. Bà vò gấu áo, gương mặt hiện rõ nụ cười lấy lòng. Tôi cúi đầu, nhìn đôi giày vải đã giặt đến bạc màu trên chân mình.
Thím Hai Ngô Thải Hà đang cho gà ăn trong sân. Nhìn thấy chúng tôi, bà ta trợn ngược mắt lên.
"Gớm, chị dâu đến đấy à."
Lưng mẹ tôi còn cúi thấp hơn nữa. "Thải Hà, Phú Quý có nhà không?"
Thím Hai hất tung nắm hạt ngô trong gáo xuống đất. "Tìm nhà tôi làm gì, lại chẳng có tiền mà cho vay đâu."
Một câu nói khiến mẹ tôi chết trân tại chỗ.
Đám gà trong sân kêu cục tác, tranh nhau mổ ngô dưới đất.
Mặt mẹ tôi từ đỏ chuyển sang trắng, rồi từ trắng chuyển sang xanh tái.
Tôi có thể nghe thấy tiếng tim mình đập thình thịch trong lồng ngực.
"Không phải, Thải Hà, Niệm Niệm nhà tôi..."
"Niệm Niệm làm sao?" Thím Hai ngắt lời bà. "Đỗ đại học rồi à?"
Mẹ tôi vội vàng gật đầu.
"Đỗ rồi, đỗ Bắc Đại rồi."
Thím Hai bĩu môi.
"Bắc Đại? Đại học ở Bắc Kinh á? Thế thì có tác dụng gì."
Giọng bà ta không to không nhỏ, vừa đủ để mấy người hàng xóm đi ngang qua nghe thấy.
Hàng xóm dừng chân, ngoảnh lại nhìn về phía này.
Tôi cảm thấy ánh mắt của họ như những mũi kim châm vào lưng mình.
Mẹ tôi vẫn cố giải thích.
"Là đại học tốt, tốt nhất cả nước đấy."
Thím Hai cười khẩy.
"Đại học tốt đến mấy thì ra trường chẳng phải cũng gả chồng. Con gái con lứa đọc lắm sách quá cái tâm tính nó lại hoang dã đi. Đến lúc đó nhìn không trúng người nông thôn, mà cũng chẳng gả được vào thành phố, chẳng phải là ế sưng ở nhà à."
Từng câu chữ của bà ta văng ra ngoài.
Môi mẹ tôi run rẩy, không thốt nổi một lời.
Trong nhà vọng ra tiếng cắn hạt dưa tách tách. Giọng chú Hai Trần Phú Quý bay ra:
"Chị dâu thì biết cái quái gì. Con gái là đồ lỗ vốn, còn muốn học Bắc Đại? Muốn lên trời chắc? Tám ngàn tệ, tôi có thể lấy thêm được một cô vợ nữa rồi. Cho các người vay? Đợi kiếp sau đi."
Xung quanh vang lên những tiếng cười kìm nén.
Tôi siết chặt nắm đấm. Móng tay lún sâu vào lòng bàn tay.
Chẳng thấy đau chút nào.
Nước mắt mẹ tôi cuối cùng cũng rơi xuống. Bà kéo tôi, quay người bước đi.
"Phú Quý, chúng tôi không vay nữa."
Thím Hai hét lên sau lưng chúng tôi:
"Chị dâu đi thong thả nhé! Ồ đúng rồi, cầm lấy năm mươi tệ này, cho Niệm Niệm mua ít kẹo mà ăn."
Một tờ tiền từ trong tường viện bay ra.
Nhẹ bẫng, rơi ngay dưới chân tôi. Giống như một cái tát trời giáng.
Người mẹ tôi lảo đảo. Tôi đỡ lấy bà.
"Mẹ, mình đi thôi."
Giọng tôi rất bình thản.
"Chúng ta không nhặt."
Tôi kéo mẹ tôi, từng bước một rời khỏi phía đông làng.
Tôi không quay đầu lại.
Tôi sợ nếu mình quay đầu, sẽ không kìm lòng được mà đốt trụi ngôi nhà gạch đỏ đó.
Về đến nhà, bố tôi ngồi xổm trên ngưỡng cửa, hút hết hơi thuốc này đến hơi thuốc khác.
Nhìn thấy chúng tôi, ông hé môi nhưng không hỏi.
Mẹ tôi vừa vào phòng đã nằm gục xuống giường khóc nức nở.
Bố tôi gõ gõ tẩu thuốc xuống đất.
"Để tôi đi." Ông nói.
Tôi giữ ông lại.
"Bố, đừng đi. Có đi cũng vô ích thôi, dù bố có quỳ xuống họ cũng không cho vay đâu."
Mắt bố tôi đỏ hoe. Một người đàn ông gần năm mươi tuổi, nước mắt cứ chực trào ra.
"Thế thì biết làm sao bây giờ." Ông nói.
"Đó là Bắc Đại mà."
Tôi nhìn những tờ giấy khen dán đầy trên tường. Từ tiểu học đến trung học, toàn là đứng nhất.
Những tờ giấy khen đó, lúc này trông như những lời mỉa mai.
Tôi lấy tờ giấy thông báo nhập học từ trong túi ra, đưa cho bố.
"Bố, con không đi học nữa. Con sẽ đi làm thuê, hai năm nữa sẽ xây nhà mới cho nhà mình."
Bố tôi nhận lấy tờ thông báo, tay run như lá rụng mùa thu.
Ông không nói gì. Ông chỉ nhìn chằm chằm vào mấy chữ đó.
Đại Học Bắc Kinh.
Đêm đó, tôi nghe thấy mẹ khóc. Bố tôi hết tiếng thở dài này đến tiếng thở dài khác.
Tôi mở trừng mắt nhìn xà nhà tối om.
Tôi nghĩ, có lẽ chú Hai nói đúng.
Gia đình như chúng tôi, không xứng đáng có ước mơ.
Ngày hôm sau, trời còn chưa sáng, cửa viện bị gõ dồn dập. Bố tôi khoác áo ra ngoài.
Là chú Ba Trần Kiến Quân.
Chú Ba kém bố tôi năm tuổi, lưng đã hơi còng. Chú trông còn già hơn cả bố tôi.
"Anh." Giọng chú Ba khàn khàn.
Tôi đã dậy rồi. Tôi thấy trong tay chú Ba cầm một bọc vải.
Chú ấn bọc vải vào tay bố tôi.
"Anh, ở đây có tám ngàn ba trăm tệ."
Bố tôi ngẩn người.
"Kiến Quân, chú đào đâu ra nhiều tiền thế này?"
Trên khuôn mặt sạm đen của chú Ba nặn ra một nụ cười.
"Tôi bán bò rồi."
"Bò?"
Giọng bố tôi đột nhiên cao lên quãng tám.
"Chú bán con bò vàng nhà chú rồi sao? Đó không phải là tiền dành dụm để cưới vợ cho Tiểu Phong nhà chú à?"
Chú Ba xua tay.
"Việc lấy vợ thì có thể dành dụm lại sau, việc đi học của Niệm Niệm không đợi được. Nhà họ Trần chúng ta khó khăn lắm mới ra được một người đỗ Bắc Đại. Dù đập nồi bán sắt cũng phải nuôi con bé học."
Tôi đứng sau cánh cửa, toàn thân run rẩy.
Thím Ba cũng đến. Mắt thím đỏ hoe, rõ ràng là vừa mới khóc xong.
Thím nắm lấy tay tôi.
"Niệm Niệm, cố gắng mà học. Đừng phụ lòng chú Ba con. Con bò nhà mình, bán không uổng đâu."
Tôi nhìn họ.
Đôi giày giải phóng của chú Ba, phần mũi đã bị rách một miếng lớn.
Quần áo của thím Ba, miếng vá này đè lên miếng vá nọ.
Tôi không nói được lời nào.
Tôi chỉ quỳ sụp xuống. Hướng về phía chú Ba thím Ba, dập đầu ba cái.
Nền đất rất cứng. Trán tôi đau điếng.
Tôi tự nhủ với lòng mình: Trần Niệm, hãy nhớ lấy ngày hôm nay.
Hãy nhớ lấy hai gia đình này.
Hãy nhớ lấy sự sỉ nhục của năm mươi tệ kia.
Và hãy nhớ lấy ân tình của tám ngàn ba trăm tệ này.
02
Ga tàu đông nghịt người. Không khí hỗn tạp mùi mồ hôi, mùi mì tôm và cả vị chua xót của sự ly biệt.
Bố tôi, mẹ tôi, chú Ba, tất cả đều đến tiễn tôi.
Trên người tôi đeo một chiếc túi vải mới tinh. Là thím Ba đã thức trắng mấy đêm liền để khâu cho tôi.
Bên trong đựng vài bộ quần áo mới và cả trứng gà luộc.
Bố tôi ấn vào tay tôi một chiếc hộp cơm bằng sắt.
"Ăn trên đường đi."
Tôi mở ra xem thử. Là màn thầu bột mì trắng, kẹp trứng xào bên trong.
Thứ mà Tết nhất mới dám ăn.
Mẹ tôi đứng bên cạnh quẹt nước mắt.
"Đến trường rồi phải ăn uống đầy đủ. Đừng có tiếc tiền. Tiền không đủ thì viết thư về nhà."
Tôi gật đầu.
Tôi biết, trong nhà đã không còn một đồng nào nữa rồi.
Chú Ba vỗ vai tôi.
"Niệm Niệm, đến Bắc Kinh rồi là người lớn rồi. Mọi việc phải tự mình suy tính. Đừng có giận dỗi với người ta, cũng đừng để người ta bắt nạt."
Tôi "vâng" một tiếng.
Tiếng còi tàu vang lên chói tai. Đến lúc phải lên tàu rồi.
Mẹ ôm chầm lấy tôi, khóc không thành tiếng. Bố tôi quay mặt đi, bả vai run bần bật.
Tôi thoát khỏi vòng tay mẹ, bước đến trước mặt chú Ba.
"Chú Ba, đợi con." Tôi chỉ nói ba chữ đó.
Chú Ba ngẩn người, sau đó nở nụ cười.
"Được, chú Ba đợi con."
Tôi xách hành lý, theo dòng người chen chúc lên con tàu màu xanh lá.
Trong toa tàu chật như nêm cối. Khó khăn lắm tôi mới tìm được một chỗ ngồi cạnh cửa sổ.
Tôi thò đầu ra ngoài. Ba người họ vẫn đứng trên sân ga. Như ba cái cây khô héo.
Tàu từ từ chuyển động. Bóng dáng họ ngày càng nhỏ lại.
Tôi cứ nhìn mãi, cho đến khi không còn thấy gì nữa.
Tôi thu đầu lại, tựa vào cửa kính lạnh lẽo. Nước mắt cuối cùng cũng rơi xuống, lặng lẽ không tiếng động, thấm vào chiếc túi vải mới.
Một bác ngồi bên cạnh đưa cho tôi tờ báo.
"Con gái, lau đi."
Tôi nhận tờ báo, nói một tiếng cảm ơn.
Trên tờ báo có in ngày tháng.
Ngày 1 tháng 9 năm 1995.
Cuộc đời tôi, bắt đầu từ ngày hôm nay, sẽ khác đi.
Tiếng tàu chạy xình xịch suốt hai ngày một đêm, cuối cùng cũng đến Bắc Kinh.
Khoảnh khắc bước ra khỏi nhà ga, tôi đã bị choáng ngợp.
Nhà cao tầng, xe hơi, những dòng người ăn mặc thời thượng… Mọi thứ đều giống như trong tranh ảnh.
Tôi siết chặt dây túi vải, trong lòng có chút hoảng hốt.
Bắc Đại có xe của trường đón tại ga. Tôi đi theo đàn anh cầm biển chỉ dẫn, lên chiếc xe bus lớn.
Trên xe toàn là tân sinh viên giống như tôi.
Họ đa số đi giày thể thao mới tinh, kéo vali kéo, phấn khích bàn luận về Bắc Kinh, bàn luận về đại học.
Chỉ có tôi, ôm chặt túi vải của mình, lặng lẽ ngồi trong góc.
Một cô gái mặc váy liền chủ động bắt chuyện với tôi.
"Chào cậu, mình là Lý Hiểu Nguyệt, còn cậu?"
"Mình là Trần Niệm."
"Cậu học khoa nào?"
"Khoa Ngữ văn."
"Oa, mình cũng thế! Trùng hợp quá! Sau này chúng ta là bạn cùng lớp rồi."
Cậu ấy rất nhiệt tình. Tôi nhếch môi, coi như một nụ cười.
Đến trường, làm thủ tục nhập học, nộp phí, nhận chìa khóa ký túc xá.
Mọi việc đều rất thuận lợi.
Sau khi nộp tám ngàn tệ tiền học phí, trong túi tôi chỉ còn lại ba trăm tệ chú Ba đưa.
Đây là tiền sinh hoạt phí của tôi.
Ký túc xá là phòng sáu người, tôi là người đến đầu tiên.
Tôi chọn giường tầng trên ở góc trong cùng.
Cất hành lý, trải giường xong xuôi, tôi ngồi trên giường, nhìn căn phòng ký túc xá trống rỗng, trong lòng cũng trống trải vô cùng.
Rất nhanh sau đó, các bạn cùng phòng lần lượt kéo đến. Họ đều đến từ thành phố, Lý Hiểu Nguyệt cũng ở phòng chúng tôi.
Họ mang theo đài radio, mang theo váy mới, mang theo đủ loại đồ ăn vặt mà tôi chưa từng thấy, cả căn phòng tràn ngập không khí vui tươi.
Họ nhanh chóng nói chuyện rôm rả với nhau, tôi không chen vào được lời nào.
Buổi tối, cuộc họp đêm của ký túc xá, họ tán gẫu về ngôi sao, về phim ảnh, về quần áo ở đâu đẹp.
Tôi nằm trên giường, giả vờ như đã ngủ say.
Ngày hôm sau, bắt đầu huấn luyện quân sự.
Mặt trời rất độc. Từ nhỏ tôi đã làm việc đồng áng nên không sợ nắng, nhưng cường độ huấn luyện vẫn rất lớn, mỗi ngày đều như vừa được vớt dưới nước lên.
Lý Hiểu Nguyệt hơi bị say nắng, sắc mặt tái nhợt. Tôi đưa bình nước của mình cho cậu ấy.
Cậu ấy nhìn tôi đầy cảm kích.
"Trần Niệm, cậu tốt quá."
Sau đợt quân huấn, chúng tôi thân thiết hơn một chút.
Cậu ấy hay kéo tôi đi thư viện, đi nhà ăn.
Cậu ấy kể cho tôi nghe những chuyện thú vị thời cấp ba của cậu ấy.
Tôi là một người lắng nghe tốt, bởi vì tôi chẳng có gì để kể cả.
Thời cấp ba của tôi chỉ có những xấp đề thi làm mãi không hết và những giấc ngủ chưa bao giờ là đủ.
Tuần học đầu tiên, tôi viết thư về nhà báo bình an.
Tôi nói trường học rất tốt, thầy cô và bạn bè đều rất tốt. Tôi ăn ngon, ở cũng tốt.
Tôi nói: "Đừng lo lắng."
Một tháng sau, tôi nhận được thư hồi âm của chú Ba.
Giấy viết thư là xé từ vở bài tập ra. Trên đó chỉ có vài dòng ngắn ngủi.
"Niệm Niệm, ở nhà đều khỏe. Cháu yên tâm học hành. Chuyện tiền nong đừng lo."
Ký tên: Chú Ba.
Tôi cầm bức thư đó, ngồi trên sân tập rất lâu.
Ba trăm tệ, phải dùng trong bốn năm.
Tôi tính toán thử, trung bình mỗi ngày không được tiêu quá hai hào.
Mỗi ngày tôi chỉ ăn hai bữa.
Sáng một cái màn thầu, trưa một phần rau chay với cơm.
Màn thầu ba hào, rau chay năm hào.
Một ngày tám hào.
Cứ thế này thì tiền chắc chắn không đủ, tôi phải nghĩ cách kiếm tiền.
Cuối tuần, tôi đến trung tâm làm thêm của trường.
Công việc ở đó rất đắt khách. Dọn dẹp lớp học, sắp xếp thư viện, đều phải xếp hàng.
Tôi đợi rất lâu, cuối cùng cũng đến lượt một công việc.
Đến nhà ăn giúp việc rửa bát, một giờ một tệ.
Một ngày tôi làm bốn tiếng, từ năm giờ chiều đến chín giờ tối.
Bồn rửa bát của nhà ăn luôn có bát đĩa rửa mãi không hết.